Thứ Năm, 8 tháng 8, 2013

Xem lại hiệu quả hàng ngày đầu tư

Trong bài tham luận “Kinh tế Việt Nam năm 2009 - Đối mặt với khủng khoảng toàn cầu” đăng trên Tạp chí Tia Sáng của Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Tiến Dũng (Đại học Toulouse, Pháp) đã biểu hiện những khó khăn mà ông dự đoán Việt Nam sẽ phải đối mặt trong năm 2009. Được sự chấp thuận của tác giả, NCĐT trích đăng lại phần đánh giá hiệu quả đầu tư của Việt Nam và thiên hướng các ngành kinh tế năm trong năm 2009.

Đầu tư kém hiệu quả

ICOR (Incremental Capital Output Ratio) là chỉ số đo hiệu quả đầu tư, nếu nó càng thấp thì hiệu quả đầu tư càng cao và trái lại. Việt Nam hiện có ICOR suýt soát 5, thuộc loại quá cao, chứng tỏ hiệu quả đầu tư kém. Có thể do nhiều lý do như chiến lược kém, quản lý kém, tham nhũng và đầu cơ quá nhiều. Việc phải đầu tư cơ sở hạ tầng nhiều trong giai đoạn phát triển không đem lại hiệu quả lớn tức tốc, nhưng quan trọng về lâu dài, do đó ICOR có thể cao.

Tuy nhiên, điều đáng để ý là ICOR của Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong những giai đoạn phát triển hao hao. Thí dụ Nhật Bản có ICOR = 3,2 trong thời đoạn 1961-1970; Hàn Quốc có ICOR = 3, Đài Loan có ICOR = 2,7 và Thái Lan có ICOR = 4,1 trong thời đoạn 1981-1995; Trung Quốc có ICOR = 4 trong giai đoạn 2001-2006.

Như vậy, việc cần làm của Việt Nam là phải tăng hiệu quả đầu tư. Hiện tỉ lệ đầu tư ở Việt Nam chiếm 35-40% tổng sản phẩm nội địa (GDP) là rất lớn, không cần tăng thêm, trái lại có thể giảm đi trong tình hình thế giới khó khăn. Có một điểm sáng đáng để ý ở Việt Nam là tỉ lệ tần tiện trong 5 năm vừa qua ở mức 30-35% GDP, thuộc loại rất cao so với thế giới. Nếu vốn nước ngoài không đổ vào thêm (cũng không rút ra), Việt Nam chỉ cần ICOR = 4 và dùng khoản tiền tiết kiệm 30% GDP thì có thể đạt tỉ lệ tăng trưởng 7,5% mà không cần vay nước ngoài.

Nếu năm 2009 Việt Nam không đạt được mức tăng trưởng 6%, đó sẽ là tổng hợp của nhiều lý do. Một trong những lý do chính sẽ là: Hiệu quả đầu tư giảm xuống, do những đầu tư tồi từ những năm trước bị điều chỉnh giảm giá trị trong năm 2009 (tức ICOR trên thực tiễn ở Việt Nam có thể còn cao hơn 5).

Khuynh hướng một số ngành kinh tế trong năm 2009

Những ngành có cầu lớn hơn cung vẫn sẽ phát triển, đặc biệt là những ngành không cần du nhập nhiều, không cần nhiều vốn nước ngoài để phát triển như giáo dục và đào tạo, dịch vụ bảo hiểm, y tế...

Ngành điện sẽ phát triển do nhu cầu điện tăng nhanh (17%/năm trong những năm vừa qua). Chính phủ sẽ phải nâng giá điện và dùng thêm những biện pháp khác để kích thích đầu tư vào ngành điện.

Có một lĩnh vực trong ngành nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm có đà tăng nhanh là thực phẩm sạch (chất lượng cao, bảo đảm vệ sinh, ít chất hóa học). Ngành bảo vệ môi trường sẽ phải tăng nhanh vì Việt Nam đang rất cần.

Ngành dịch vụ viễn thông đã phát triển gần đến mức bão hòa (về lượng) và cầu không còn vượt cung, nên tuy vẫn làm ăn được nhưng khó có thể phát triển nhanh được nữa. Ngành này vẫn sẽ phát triển về chất như nâng tốc độ đường truyền internet, nhưng điều đó không có tức là giá dịch vụ có thể tăng nhiều.

Những ngành cốt dành cho xuất khẩu như giày dép, dệt may, đồ gỗ, thủy sản, thủ công mỹ nghệ, nông nghiệp, dầu hỏa sẽ gặp khó khăn. Ngành du lịch (không xuất khẩu trực tiếp nhưng có thể xem là xuất khẩu tại chỗ do phục vụ du khách nước ngoài) sẽ bị suy thoái. Giá phòng khách sạn ở Việt Nam sẽ phải giảm sau mấy năm tăng chóng mặt.

Giá dầu xuống dưới 40 USD/thùng sẽ khiến doanh thu và lợi nhuận của ngành dầu khí giảm nhiều. Việc giá gạo ngả nghiêng mạnh có ảnh hưởng không tốt đến Việt Nam, đặc biệt là nông dân, do việc quản lý rủi ro ở Việt Nam không bằng các nước khác. Ngành gia công phần mềm cho nước ngoài có thể tránh được suy thoái (dù trên thế giới ngành này có suy thoái), vì chênh lệch giá cần lao giữa kỹ sư phần mềm ở Việt Nam và các nước khác còn rất cao.

Những gì lúc trước nảy nở quá nhiều, dẫn đến khủng hoảng thừa, sẽ gặp khó khăn, đặc biệt nếu sự nảy nở đó dựa trên đòn bẩy tài chính cao, đầu cơ nhiều. Thí dụ bất động sản hiện tại đã khủng hoảng “thừa hàng, thiếu vốn”, nhất là loại nhà cao cấp được mua chủ yếu để đầu cơ và các dự án khu du lịch tràn lan. Ngành xây dựng sẽ gặp khó khăn, nhiều công ty có nguy cơ phá sản và những ngành ăn theo như vật liệu xây dựng cũng khó khăn theo.

Trong ngành chứng khoán, Việt Nam có 100 công ty chứng khoán và 30-40 công ty quản lý quỹ là quá nhiều so với một thị trường nhỏ bé (tổng vốn hóa thị trường niêm yết hiện còn khoảng 10 tỉ USD). Điều này ắt sẽ dẫn đến việc nhiều công ty thua lỗ, phải đóng cửa hoặc sáp nhập. Tuy nhiên, có nhiều mảng khác của chứng khoán có cầu mà chưa có cung, sẽ phát triển như mảng đầu tư vào thị trường thế giới, mảng thị trường hàng hóa (commodities) và thị trường các sản phẩm chứng khoán phái sinh (derivatives), các phương tiện tự bảo hiểm (hedging) và quản lý rủi ro cho doanh nghiệp và cá nhân chủ nghĩa.

Các ngành ở Việt Nam sẽ đi theo những khuynh hướng chung của thế giới. Thí dụ, khuynh hướng sinh sản trong đó hiệu quả kinh tế được nâng cao nhờ mở mang quy mô sinh sản, tần tiện tổn phí; sản xuất công nghiệp tụ hội về một số khu... Nhưng nhiều doanh nghiệp có thể gặp khó khăn vì bị chệch hướng so với những xu hướng chung đó. Ví dụ có quá nhiều doanh nghiệp lắp ráp ôtô với công suất thấp ở Việt Nam, dẫn đến hiệu quả kinh tế kém. Những ngành đòi hỏi nhiều trí tuệ sẽ càng ngày càng phát triển, lượng công việc sản xuất cần “nhiều chân tay” sẽ ít đi. Tuy một số ngành dịch vụ sẽ gặp khó khăn trong năm 2009 (đặc biệt là dịch vụ du lịch), nhưng nhìn chung sẽ ngày càng có thêm nhiều ngành dịch vụ và tổng tỉ lệ của dịch vụ trong nền kinh tế sẽ tăng lên.

ADB rót tiền vào đường cao tốc

Nhà băng Phát triển Châu Á (ADB) vừa cam kết dành cho Việt Nam khoản vay 1,096 tỉ USD trong dự án xây dựng đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai thuộc nhà xí giao thông Côn Minh - Hải Phòng có tổng giá trị 1,216 tỉ USD. Trong đó, vốn vay ưu đãi là 200 triệu USD, vốn vay thường nhật là 896 triệu USD. Riêng nguồn vốn đối ứng cho dự án là 120 triệu USD sẽ do chủ đầu tư là Công ty Đầu tư Phát triển Đường cao tốc Việt Nam (VEC) phát hành trái phiếu công trình có bảo lãnh của Chính phủ. Đây được xem là khoản vay lớn nhất mà ADB dành cho Việt Nam từ trước đến nay.

Malaysia đầu tư 1,5 tỉ USD vào nhiệt điện

Chính phủ vừa cho phép Tập đoàn Janakuasa Sdn Bhd (Malaysia) xây dựng dự án Nhà máy Nhiệt điện Than Duyên Hải 2, công suất 1.200 MW. Tổng vốn đầu tư khoảng 1,5 tỉ USD của dự án hoàn toàn được huy động từ nước ngoài, trong đó 70% được vay từ các ngân hàng thương mại Malaysia và một số ngân hàng khác trên thế giới, phần còn lại do Janakuasa cung cấp. Dự kiến đến cuối năm 2010 hoặc đầu năm 2011, Tập đoàn sẽ tiến hành xây dựng nhà máy và sau khoảng 4 năm mới có thể xây lắp các thiết bị công nghệ và vận hành. Theo kế hoạch, năm 2014 nhà máy sẽ vận hành tổ máy trước tiên với công suất khoảng 7.200-7.800 triệu KWh điện, tổ máy thứ 2 sẽ đi vào vận hành năm 2015. Mỗi năm nhà máy sẽ cần khoảng 3,5 triệu tấn than, dự kiến sẽ nhập từ Indonesia.

Thêm 4 dự án xi măng

Mặc dầu Việt Nam đang dư thừa xi măng, nhưng Bộ Xây dựng vẫn yêu cầu Chính phủ bổ sung 4 dự án cùng có công suất 2.500 tấn clinker/ngày (tương đương 0,91 triệu tấn/năm) vào quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Các dự án này dự tính được đặt tại tỉnh Hà Nam, Bắc Giang và Nghệ An. Theo Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam, hiện số dự án xi măng đăng ký và cho phép đưa vào quy hoạch sẽ đạt tổng công suất dự định khoảng 100 triệu tấn vào năm 2020, tương đương với dự báo nhu cầu xi măng của Việt Nam vào thời khắc đó.

Vĩnh Phúc thành tỉnh thành hạt nhân

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành hình định duyệt y nhiệm vụ quy hoạch chung xây dựng thành phố Vĩnh Phúc, tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó, diện tích khu vực nghiên cứu quy hoạch chung tỉnh thành Vĩnh Phúc khoảng 328,6 km2. Vĩnh Phúc sẽ là trung tâm kinh tế lớn, song song giữ vai trò mối manh liên lạc, giao lưu quan yếu của vùng ven thủ đô, vùng kinh tế trung tâm Bắc Bộ và cả nước với các ngành kinh tế chủ đạo là công nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp, du lịch - nghỉ dưỡng. Quy hoạch đề cập đến việc xây dựng thành thị hạt nhân - thống nhất gồm thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên, huyện Bình Xuyên và các khu vực thành phố hóa nhanh thuộc các huyện Yên Lạc, Vĩnh Tường, Tam Dương, Tam Đảo, để trong tương lai từng bước hình thành thành phố loại I trực thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.

MẠNH DƯƠNG